#TTTG 219 Chương 3
Chị họ Lưu Yến của tôi lúc bấy giờ vừa thi đậu trường cấp 3 trên huyện, thành tích cũng rất xuất sắc.
Biết mẹ định bán cả nhà lẫn máy cày để dồn hết tiền cho tôi đi học, chị lén nói với dì cả rằng chị không muốn đi học nữa, chị muốn đi làm thuê kiếm tiền.
Ban đầu dì cả kiên quyết không chịu, nhưng chị họ vừa khóc vừa nài nỉ: “Mẹ, nhà mình nông nỗi này rồi, con còn tâm trí đâu mà học tiếp nữa?
Em trai sắp lên Bắc Kinh học Thanh Hoa, đó là chuyện hệ trọng vô cùng, con làm chị cũng phải có trách nhiệm góp sức.
Con đi làm, mỗi tháng đều kiếm được tiền, vừa đỡ đần tiền học cho em, vừa phụ mẹ lo liệu cuộc sống gia đình.”
Dì cả ôm chầm lấy chị họ, khóc suốt cả một đêm.
Ngày hôm sau, bà đồng ý chuyện chị họ bỏ học.
Nhiều năm sau, tôi mới biết chuyện này.
Tôi mới biết, việc tôi có thể đến Thanh Hoa học không chỉ là nhờ dì cả bán hết gia sản,
mà còn nhờ chị họ tôi từ bỏ giấc mơ học hành của mình, dùng tuổi thanh xuân của cô ấy để trải đường cho tôi.
Chẳng bao lâu sau, dì cả bán luôn chiếc máy kéo.
Chiếc máy kéo đó là thứ duy nhất mà dượng tôi để lại năm xưa, cũng là công cụ kiếm tiền duy nhất của nhà dì cả.
Dì cả lái nó mười mấy năm, giữ gìn rất tốt, vậy mà vì cần bán gấp, chỉ bán được tám nghìn tệ.
Mấy ngày sau nữa, dì cả cũng bán luôn ngôi nhà cũ mà bà đã sống cả đời.
Đó là căn nhà bà và dượng tôi cùng dựng lên từng viên gạch, từng mảnh ngói khi mới cưới, là nhà của bà, là gốc rễ của bà.
Ngày bán nhà hôm đó, dì cả đứng rất lâu trong sân viện trống rỗng, khóc rất lâu, nhưng vừa quay đầu đã nhét toàn bộ mười hai nghìn tệ tiền bán nhà vào tay tôi.
Cộng với số tiền trước đó mua đồ, dì cả tổng cộng đưa cho tôi hai mươi tám nghìn tệ.
Bà bọc số tiền ấy trong khăn tay, gói thật chặt rồi đưa vào tay tôi, nói: “Lai Hỷ, cầm lấy, tiền học đủ rồi, tiền sinh hoạt cũng đủ rồi.
Đến Bắc Kinh rồi, đừng để bản thân chịu thiệt, ăn ngon mặc tốt, học hành tử tế, đừng lo cho nhà, đã có dì cả.”
Tôi cầm túi tiền ấy, nặng trĩu trong tay, mỗi tờ tiền đều thấm mồ hôi của dì cả, đều mang theo tâm huyết của dì cả.
Tôi “bịch” một tiếng quỳ sụp trước mặt dì cả, dập đầu ba cái thật vang, khóc nói: “Dì cả, ân tình của dì, cả đời này con cũng không trả hết được! Sau này nếu con có tiền đồ, nhất định con sẽ hiếu kính dì thật tốt, lo cho dì dưỡng lão đến cuối đời!”
Dì cả vội vàng đỡ tôi dậy, lau nước mắt cho tôi, nói: “Con ngốc, còn nói trả với không trả gì chứ? Con là cháu của dì, dì giúp con là phải.
Con chỉ cần học hành tử tế, sau này trở thành người có ích cho xã hội, dì cả đã thấy mãn nguyện rồi.”
Sau khi bán nhà và bán máy kéo, dì cả và chị họ chuyển vào cái nhà kho bỏ hoang ở đầu thôn.
Cái kho đó đã lâu không ai dùng, gió lùa bốn phía, mái nhà cũng thủng mấy lỗ, mùa hè thì dột mưa, mùa đông thì gió rét lùa vào.
Dì cả và chị họ bèn dùng bạt nhựa vá những lỗ thủng trên mái, lấy bùn trét kín các khe nứt trên tường, dựng một cái giường đất trong kho, đặt thêm bếp lò, thế là tạm coi như nhà.
Nhưng những chuyện này, dì cả chưa từng kể với tôi.
Mỗi lần gọi điện cho tôi, bà chỉ nói nhà vẫn ổn cả, bảo tôi cứ yên tâm học hành, đừng lo cho nhà.
3 Thanh Hoa viên, điều không dám quên
Cuối tháng tám năm 2010, tôi cầm số tiền dì cả chắp vá gom góp được, lên chuyến tàu đi Bắc Kinh.
Dì cả, mẹ tôi và chị họ đều ra ga tiễn tôi.
Khi tàu bắt đầu chạy, tôi nhìn dì cả trên sân ga.
Bà vẫy tay, trên mặt là nụ cười, nhưng đôi mắt lại đỏ hoe.
Tàu càng đi càng xa, bóng dáng bà càng nhỏ dần, tôi áp mặt lên cửa sổ tàu, nước mắt không ngừng rơi.
Bắc Kinh rất lớn, Thanh Hoa viên cũng rất đẹp, nhưng với một đứa trẻ từ vùng núi nghèo như tôi mà nói, tất cả ở đây đều quá xa lạ, cũng khiến tôi tự ti vô cùng.
Bạn học của tôi, rất nhiều người đều đến từ những thành phố lớn, họ nói tiếng Anh lưu loát, biết dùng máy tính, biết đàn piano,
từng thấy rất nhiều thứ mà tôi nghe còn chưa nghe qua.
Còn tôi, đến máy tính cũng chưa từng đụng vào mấy lần, tiếng phổ thông còn nói không chuẩn, mặc bộ quần áo mấy chục tệ dì cả mua cho, đứng giữa họ, chẳng khác nào một kẻ lạc loài.
Tôi từng hoang mang, từng tự ti, thậm chí từng nảy ra ý định lùi bước.
Nhưng mỗi lần tôi muốn bỏ cuộc, tôi lại nhớ đến dì cả, nhớ đến cảnh bà bán nhà và bán máy kéo, nhớ đến dáng vẻ bà kéo gạch trong lò gạch, nhớ đến túi tiền nặng trĩu bà đưa cho tôi.
Rồi tôi tự nói với mình, Hình Lai Hỷ, mày không được hèn, trên vai mày đang gánh hy vọng cả đời của dì cả và mẹ mày,
mày nhất định phải học thật tốt, không thể làm họ thất vọng.
Tôi dồn hết thời gian và tinh lực vào việc học.
Người khác thì tham gia hoạt động câu lạc bộ, yêu đương, ra ngoài chơi, còn tôi thì vùi mình trong thư viện, vùi mình trong phòng máy.
Tôi bắt đầu học từ những thao tác máy tính cơ bản nhất, ngày đêm viết code, đọc sách, mỗi ngày đều là ba điểm một đường giữa ký túc xá, phòng học và thư viện,
thường học đến một, hai giờ sáng mới về ký túc xá.
Tôi không dám tiêu hoang một đồng nào.
Số tiền dì cả đưa cho tôi, ngoài học phí và chi phí sinh hoạt cần thiết, tôi không nỡ tiêu thêm dù chỉ một đồng.
Ăn uống tôi đều mua những món rẻ nhất ở căn tin, chưa từng mua quần áo mới, trên người chỉ mặc mấy bộ dì cả mua cho, giặt đến bạc màu rồi vẫn tiếp tục mặc.
Để giảm bớt gánh nặng cho dì cả, từ năm nhất đại học, tôi đã tranh thủ thời gian rảnh đi làm gia sư,
nhận viết code cho mấy công ty nhỏ, kiếm chút tiền tiêu vặt.
Lần đầu tiên tôi dựa vào chính mình viết code kiếm được hai nghìn tệ,
việc đầu tiên là gửi một nghìn tệ về cho dì cả.