#TTTG 219 Chương 2
Mùa đông năm tôi học lớp mười hai, tuyết rơi rất lớn, đường sá đều bị phong tỏa.
Tôi cứ tưởng dì cả sẽ không đến nữa, nào ngờ lúc tan tiết tự học buổi tối,
tôi lại thấy trước cổng trường có một người đang đứng đó, trên người phủ đầy tuyết, tóc cũng đông cứng lại, trong tay xách một cái túi vải, chính là dì cả.
Dì đã đi bộ mấy chục dặm trên tuyết để mang cho tôi chút sủi cảo tự gói, đến trấn rồi mới bắt xe buýt, lắc lư hơn ba tiếng mới tới thành phố.
Sủi cảo được đựng trong thùng giữ nhiệt, vẫn còn nóng, nhưng tay dì cả thì đã lạnh đến đỏ bừng, sưng phồng lên như cái bánh bao.
Tôi vừa ăn sủi cảo, nước mắt vừa rơi vào bát, mặn chát đến phát đắng.
Dì cả nhìn tôi, cười nói: “Khóc cái gì? Ăn ngon vào, ăn xong thì ôn tập cho tốt, đợi cháu đỗ vào Thanh Hoa, dì cả sẽ bày tiệc, mời cả làng đến ăn.”
Khi ấy, Thanh Hoa đối với tôi mà nói, vẫn là một giấc mơ xa vời không với tới.
Nhưng lời của dì cả, như một vệt sáng, chiếu vào quãng thanh xuân u tối của tôi, khiến tôi có thêm dũng khí để bước tiếp.
- Tai họa như trời sập và tấm lưng của dì cả
Ngày thi đại học kết thúc, tôi bước ra khỏi phòng thi, thấy dì cả và mẹ tôi đều đứng ở cổng trường chờ tôi.
Dì cả cầm trên tay một chai nước ngọt ướp lạnh, đưa vào tay tôi rồi nói: “Đừng căng thẳng, thi thế nào cũng không sao, cố hết sức là được.”
Nhưng tôi biết, dì còn căng thẳng hơn cả tôi.
Trong nửa tháng chờ điểm, ngày nào dì cả cũng chạy đến nhà tôi mấy lượt, đứng ngồi không yên, đến ngủ cũng không ngon giấc.
Ngày công bố điểm, sau khi tra xong kết quả, tay tôi run bần bật.
Điểm của tôi cao hơn điểm chuẩn tuyển sinh của Thanh Hoa những ba mươi điểm.
Mẹ tôi lập tức bật khóc, quỳ xuống đất, hướng về di ảnh của ba tôi mà dập đầu mấy cái.
Dì cả cầm bảng điểm của tôi, lật qua lật lại nhìn, nhìn một lần thì khóc một lần, miệng không ngừng lẩm bẩm: “Đỗ rồi, Lai Hỷ nhà chúng ta đỗ Thanh Hoa rồi, tốt quá, tốt quá…”
Tin tức nhanh chóng lan khắp cả thôn, cả thôn đều náo loạn.
Tôi là đứa trẻ đầu tiên trong cái khe núi nghèo nàn này đỗ Thanh Hoa.
Bí thư thôn dẫn theo cán bộ thôn đến nhà tôi chúc mừng, hàng xóm cũng đều tới, trong sân chen chúc kín mít,
ai cũng nói mộ tổ nhà tôi bốc khói xanh, nói dì cả có mắt nhìn người, nuôi dạy ra được một đứa cháu ngoại có tiền đồ như vậy.
Nhưng sau sự náo nhiệt ấy, vấn đề thực tế lại bày ra trước mắt.
Học phí của Thanh Hoa, cộng thêm phí ký túc xá, tiền sách vở, riêng năm đầu đã gần một vạn tệ,
còn cả sinh hoạt phí của tôi khi lên Bắc Kinh đi học, lặt vặt cộng lại, ít nhất cũng phải hai vạn tệ.
Hai vạn tệ, ở cái làng nghèo của chúng tôi vào năm 2010, quả thực là một con số trên trời.
Sau khi ba tôi qua đời, trong nhà vốn chẳng có mấy đồng tích góp, mấy năm nay mẹ tôi uống thuốc, tôi đi học, sớm đã đào rỗng đáy nhà, còn nợ họ hàng mấy nghìn tệ bên ngoài.
Mẹ tôi lục tung hết số tiền trong nhà ra, ngay cả tiền lẻ cũng tính vào, tổng cộng vẫn chưa đến ba nghìn tệ.
Mẹ tôi lại gấp đến khóc, ngày nào cũng ra ngoài tìm họ hàng vay tiền, nhưng nhà nào trong thôn cũng sống chật vật, chẳng ai lấy ra nổi nhiều tiền như vậy.
Có họ hàng còn nói mát: “Một đứa trẻ nhà quê, học nhiều thế để làm gì? Thà sớm ra ngoài đi làm kiếm tiền còn hơn, tốt nghiệp Thanh Hoa thì đã sao? Chẳng phải vẫn đi làm thuê cho người ta thôi à?”
Mẹ tôi chạy vạy suốt mấy ngày trời mà cũng chỉ vay được hơn một ngàn tệ.
Tối hôm đó, bà ngồi cạnh tôi, xoa đầu tôi rồi nức nở: “Lai Hỉ à, hay là… mình không học nữa con nhé? Mẹ vô dụng, không lo nổi tiền, mẹ có lỗi với con, có lỗi với bố con…”
Nhìn mái tóc điểm bạc và đôi bàn tay nứt nẻ của mẹ, tim tôi đau thắt lại như có dao đâm.
Tôi cắn răng bảo: “Mẹ, không sao đâu, không học nữa thì thôi ạ. Mai con lên huyện tìm việc làm, kiếm tiền lo cho gia đình.”
Đúng lúc ấy, dì cả đẩy cửa bước vào.
Hóa ra nãy giờ dì đứng ngoài cửa và đã nghe hết cuộc trò chuyện của hai mẹ con.
Khuôn mặt dì căng lại, bước tới trước mặt mẹ tôi, nói: “Tú Mai, em đang nói cái thứ lời lẽ ngớ ngẩn gì vậy? Lai Hỉ đậu Thanh Hoa là chuyện vui tày đình, sao có thể nói không đi là không đi được?
Việc học này, nhất định phải tiếp tục!”
Mẹ tôi khóc nấc lên: “Chị ơi, nhưng tiền đâu ra bây giờ? Hai vạn tệ lận, chị em mình biết xoay xở ở đâu?”
Dì cả vỗ ngực quả quyết: “Chuyện tiền nong em không cần bận tâm, cứ để đó chị lo.
Dù có phải bán sạch sành sanh nhà cửa, chị cũng phải lo đủ tiền học phí cho thằng Lai Hỉ!”
Đêm hôm đó, dì cả không về mà ở lại nhà tôi suốt sáng.
Nửa đêm tỉnh dậy đi uống nước, tôi vẫn thấy dì ngồi trên ghế ở gian nhà chính.
Dưới ánh đèn leo lét, dì hí hoáy ghi chép, tính toán xem đồ đạc trong nhà bán đi thì gom được bao nhiêu tiền.
Sáng sớm hôm sau, dì tức tốc về làng bên, bắt đầu bán tháo đồ đạc trong nhà.
Đầu tiên, dì nhượng lại mấy sào ruộng cho người cùng làng, cầm một cục được năm ngàn tệ.
Sau đó, dì bán hết lúa gạo, lợn gà, rồi cả những món đồ nội thất có giá trị, gom thêm được hơn ba ngàn tệ nữa.
Nhưng chừng đó tiền cộng lại cũng chưa tới một vạn tệ, vẫn còn thiếu một khoản lớn.
Tôi cứ tưởng dì đã hết cách, nhưng không ngờ, dì đưa ra một quyết định khiến tất cả mọi người đều ngỡ ngàng — dì quyết định bán chiếc máy cày, và cả căn nhà cổ mà dì đã gắn bó cả đời.
Tin tức lan ra, dân làng ai cũng xúm vào khuyên can: “Tú Liên, bà điên rồi sao? Chiếc máy cày là cần câu cơm, căn nhà là gốc gác của bà.
Bà bán hết đi rồi mẹ con bà cùng Tiểu Yến sau này ở đâu? Lấy gì mà sống?”
Chị họ của dì cả, tức là dì họ của tôi, cũng mắng thẳng mặt: “Mày có bị ngốc không hả? Đó là con trai của em gái mày chứ có phải con ruột đẻ ra đâu. Mày vì nó mà bán cả nhà cửa, sau này mày già cả rồi ai lo cho mày?”
Nghe vậy, dì cả chỉ mỉm cười nhẹ, đáp: “Lai Hỉ là đứa cháu em nhìn nó lớn lên từ bé, có khác gì con ruột em đâu.
Thằng bé có chí khí, không thể vì chữ tiền mà lỡ dở cả một đời được.
Đời em đến đây coi như xong, nhưng Lai Hỉ thì khác, nó có thể bước ra khỏi cái vùng quê nghèo này, sau này sẽ làm nên chuyện lớn.
Chỉ cần nó được đi học đàng hoàng, chút khổ cực này của em có đáng là bao?”